Bài đăng

Hiển thị các bài đăng có nhãn Mien Dich

Đại Cương Về Kháng Thể

Hình ảnh
Các kháng thể (antibody) hay còn gọi là các globulin miễn dịch (immunoglobulin - ám chỉ thành phần cung cấp khả năng miễn dịch nằm ở phần globulin của huyết thanh khi phân tích bằng điện di) là những phân tử protein hoạt động như những thụ thể trên bề mặt tế bào lympho B để nhận diện kháng nguyên hoặc như những sản phẩm tiết của tế bào plasma. Về nguồn gốc, tế bào plasma chính là tế bào lympho B sau khi đã nhận diện kháng nguyên, hoạt hoá và biệt hoá thành. Những kháng thể do tế bào plasma tiết ra có tính đặc hiệu với kháng nguyên giống hệt như tính đặc hiệu của phân tử kháng thể trên bề mặt tế bào B đóng vai trò là thụ thể dành cho kháng nguyên đã nhận diện kháng nguyên ban đầu. Read more »

Phản Ứng Miễn Dịch Huỳnh Quang (Immunofluorescence Assays)

Hình ảnh
Thử nghiệm miễn dịch huỳnh quang (immunofluorescence assays) Kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang đã dược sử dụng trên từ năm 1944. Những người đầu tiên thực hiện kỹ thuật này là ông Coons, Creech và Jones. Kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang bao gồm: Miễn dịch huỳnh quang trực tiếp và Miễn dịch huỳnh quang gián tiếp. Nguyên lý kỹ thuật: Kháng nguyên + Kháng thể + Chất đánh dấu huỳnh quang + Nguồn sáng huỳnh quang. Sự thành công của kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Sự bảo quản kháng nguyên. Đủ kháng thể để kết hợp. Hệ thống kính hiển vi huỳnh quang chất lượng tốt. Nhuộm cẩn thận và phương thức ủ ấm đúng. Các chất nhuận huỳnh quang thường được dùng nhất để đánh dấu trong các thử nghiệm gắn kết sơ cấp là fluorescein isothiocynate (FITC) (hình 2.5). FITC là hợp chất màu vàng có thể gắn kết với các kháng thể mà không ảnh hưởng tới hoạt tính của của kháng thể. Khi bị kích thích với tia UV hay ánh sáng xanh ở bước sóng 290nm và 145 nm, FITC phát quang thành ánh sáng thấy màu x...

Dinh Dưỡng Động Vật Và Miễn Dịch ( Phần II)

Hình ảnh
Trong 40 năm qua, tiềm năng di truyền năng suất của gia cầm đã được cải thiện vượt bậc. Nhiều kiến thức mới về dinh dưỡng, trao đổi chất cũng như sinh trưởng, sinh sản đã được tích lũy. Ảnh hưởng của mức dinh dưỡng và FCR đã được khám phá. Hơn thế nữa những tiến bộ đáng kể về thuốc thú y, phương tiện, phương pháp chuẩn đoán, chương trình vaccin cũng đã được cải thiện. Nhưng quan trọng hơn đó là chất lượng thông tin (ví dụ trong lãnh vực dịch tễ học), tất cả các tiến bộ đó đã tạo nên sự hỗ trợ rất lớn cho người chăn nuôi . Các công ty giống đang điều phối các quy trình cho gà đẻ trứng, cho gà giống và gà thịt để đạt tối ưu hoá lợi nhuận. Read more »

Nucleotide Trong Dinh Dưỡng Và Miễn Dịch Vật Nuôi ( Phần I)

Hình ảnh
Nucleotide là gì ? Nucleotide là thành phần cuả axit Nucleic ( AND và ARN) . Và do đó nó là chất cực kỳ quan trong trong bất kỳ dạng phân chia tế bào cơ thể sống. Cấu trúc của nó bao gồm một đường đơn, một gốc kiềm và từ 1 đến 3 gốc axit Photphoric. Đường đơn ở đây có thể là đường Riboza, hoặc là Deoxyriboza. Gốc kiềm có thể Purin hoặc Pyrimidin nên Nucleotide có thể được chia ra làm hai nhóm và được tổng hợp từ các hướng khác nhau. Nhưng sự tổng hợp trong cơ thể có đặc trưng là tiêu hao nhiều về năng lượng, thời gian. Trong tự nhiên có hai cách để cơ thể động vật có được Nucleotide. Một là tổng hợp hai là thu được từ thức ăn ăn vào. Nucleotide trong khẩu phần thì có được từ tiêu hoá thức ăn hoặc từ nguồn Nucleotide mà nhà làm công thức thức ăn cung cấp. Điều quan trong ở đây nó là dạng Nucleotide cực kỳ ổn định. Và do đó khó bị tiêu hoá. Và như thế bổ sung Nucleotide là thực sự có ý nghiã trong giai đoạn mà động vật bị Stress ở các mức độ khác nhau. Read more »

Vai Trò Của β-glucan Và Mannan Oligosacchride Trong Thức Ăn Chăn Nuôi

Hình ảnh
Trong chăn nuôi và nuôi thủy sản, dịch bệnh luôn là tác nhân gây thiệt hại lớn nhất. Khi dịch bệnh xảy ra, người chăn nuôi phải sử dụng kháng sinh để điều trị (bệnh do vi khuẩn) hoặc ngăn ngừa những tác nhân gây bệnh kế phát (bệnh do virus, vi khuẩn là tác nhân kế phát).  Tuy nhiên, điều trị bằng kháng sinh cũng đang gặp nhiều khó khăn do hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc, dư lượng kháng sinh ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe vật nuôi và người sử dụng sản phẩm, thậm chí việc sử dụng kháng sinh còn ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu thành phẩm sau này. Vì vậy duy trì trạng thái sức khỏe tốt của vật nuôi thông qua các hoạt chất có tác dụng kích thích hệ miễn dịch đang là giải pháp hiệu quả và an toàn nhất. β-glucan và Mannan oligosacchride là những hoạt chất từ thiên nhiên có thể đáp ứng được nhu cầu này. Read more »

Vaccine Sống Và Vaccine Bất Hoạt

Hình ảnh
Cả hai vaccin nhược độc sống và bất hoạt đều có chung mục tiêu là kích thích hệ thống miễn dịch của vật chủ để sản xuất kháng thể nhằm bảo vệ động vật khỏi bệnh tật và nhiễm trùng bằng các kháng nguyên đặc hiệu. Kháng nguyên là những đoạn đánh dấu trên thành tế bào vi sinh vật, là những mảnh nhỏ có thể kích thích đáp ứng miễn dịch.  Những lợi ích của vaccine sống nhược độc: 1/ Cung cấp khả năng miễn dịch lâu dài và đầy đủ hơn 2/ Kích thích miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể 3/ Có thể không cần tiêm vaccin nhiều lần nhằm đánh thức phản ứng nhớ Việc quyết định sử dụng vaccin sống nhược độc hay bất hoạt phụ thuộc vào: 1/ Quy định sử dụng các chất tá dược 2/ Tác dụng phụ có khả năng xảy ra khi tiêm hai loại vaccin bất hoạt cùng một lúc 3/ Loại miễn dịch mà vaccin bất hoạt mang lại (vaccin sống nhược độc có thể được ưa thích trong những tình huống nguy cơ cao do được coi là có hiệu quả hơn) 4/ Nguy cơ phát tán virus từ vaccin sống nhược độc 5/ Vấn đề an toàn của vaccin, đặc biệt là tron...